Thứ Tư, 14 tháng 2, 2018

Em Ra Đi Mùa Xuân

*Lê Văn Tiến



Câu chuyện đã cách đây năm mươi năm, nhưng mỗi lần chuẩn bị đón tết, tôi luôn nhớ lại, không thể lãng quên. Vào đêm 30 tháng Chạp năm ấy, cái đêm oan nghiệt đã cướp đi người em hàng xóm dễ mến của tôi nhưng hình ảnh em không bao giờ phai nhòa trong ký ức đã lùi xa hơn nửa đời người. Ngoan, tên người em gái nhỏ hơn tôi một tuổi, bạn chơi đùa với tôi lúc còn ấu thơ ở quê làng. Cuộc đời của Ngoan là một bi kịch đầy nước mắt, em vĩnh viễn ra đi năm 16 tuổi bỏ lại muôn vàn nhớ thương cho người thân và bạn bè.

Ngoan có tên thường gọi là Bé Tý, em đã thiếu vắng người cha khi mới lọt lòng. Mẹ của Bé Tý là dì Vân lặng lẽ sống, chắt chiu nuôi con. Dì Vân coi tôi như con ruột, mỗi lần đi chợ về Dì thường mua kẹo bánh và kêu tôi qua nhà ăn chung với Bé Tý. Tôi nhớ mãi những viên kẹo cau ngọt lịm, tôi ngậm trong miệng cho đến lúc nó tan mà không muốn nhai. Trong làng tôi có chừng mười đứa trẻ ngang tuổi nhau, toàn là con trai chỉ có Bé Tý và Bé Nhím là con gái. Bọn trẻ chúng tôi thường rủ nhau ra chơi ở rú cát phía sau làng. Vào mùa đông lạnh lẽo, có những lùm cây lớn là chỗ chúng tôi hay đốt lửa để nướng những củ khoai mài, khoai lang đào được. Mùa hè, sau vụ gặt chúng tôi ra đồng bắt dế, thả diều. Những lần như vậy đều có Bé Tý theo chơi, em cũng là một “thủ kho” rất tin cậy của tôi khi tôi bắt được những con dế hay những tổ chim se sẻ nhiều trứng nhờ em giữ lấy và  đem về. Ba me tôi có ba đứa con trai và một đáng. Tôi là đứa con đầu được đặt là Cu Anh, đứa kề là Cu Em và đứa em trai cuối là Cu Tý. Nhà chú Thược ở cạnh nhà tôi cũng có ba đứa con trai đặt tên là: Mào Nậy, Mào Nhỏ và Mào Cọt. Ở miền quê mới sinh ra thường chọn những cái tên xấu để đặt cho con cái, có lần tôi hỏi thì mẹ trả lời: “Đặt tên xấu để cho ma không bắt”. Tôi nghe mà mù mờ, chẳng biết ma mủ nào. Những cái tên “ma chê” đó theo chúng tôi mãi đến khi đi học dù đã có tên chính thức trong giấy khai sinh.

Năm 1963, tôi học lớp Nhì (Lớp 4 bây giờ) ở trường Tiểu học An Lưu. Anh Hiền, con của bác tôi ở thị xã về thăm chơi. Thường vào mùa hè anh về nhà tôi thăm và dạy kèm tôi môn toán. Anh nói: “Phải học giỏi em mới thi đâu đệ Thất để lên học trường công”. Thú thật lúc đó tôi không muốn học lên cao nữa vì sợ phải lên tỉnh học, phải xa bạn bè trong làng, xa rú cát và cánh đồng trước làng mà bọn trẻ trong làng cùng tôi một thời rong chơi. Bé Tý, đứa em dễ thương luôn luôn bên tôi như hình vời bóng, khi đi chơi cũng như khi đi học. Thực tâm tôi không muốn xa Bé vì có cảm nhận mơ hồ nhưng mạnh mẽ về một tình cảm gắn bó gần như ràng buộc hai chúng tôi. Anh Hiền lúc đó học ở trường Nguyễn Hoàng, nhờ anh về dạy kèm nên môn toán của tôi rất giỏi. Hết năm lớp Nhì tôi đã làm hết 600 bài toán mẫu của thầy giáo Trần Văn Tiếu. Thầy Trần Xuân Yên lúc nào cũng gọi tôi lên bảng giải những bài toán khó (khó đối với hầu hết các bạn trong lớp). Ba năm đầu tiểu học tôi còn ham chơi nhưng sau khi anh Hiền quan tâm và khuyên răn nên tôi mới chịu học. Tội nghiệp Bé Tý không có cha, không có anh nên việc học em tự lo liệu. Thường tôi giúp Bé làm những bài khó và nhờ dành dụm chút tiền mẹ cho nên tôi mua thêm sách giáo khoa cho em.

Ba tôi không muốn tôi chơi với Bé Tý. Ông nói: “Con đừng chơi với con nớ, nhà nó không tốt mô!”. Lúc đó tôi không hiểu tại sao ông nói vậy, mãi sau này lớn lên tôi mới hiểu. Nguyên nhân là cha của Bé Tý là bác Khôn đi tập kết ra Bắc khi Bé Tý còn trong bụng mẹ, lúc đó ba tôi làm cán bộ xã của chế độ cũ nên không muốn tôi giao du với họ. Đối với tôi, chỉ biết Bé Tý là người em gái dễ thương và dì Vân là người hàng xóm hiền lành, tốt bụng nên tôi không chú ý đến lời dặn của ba, vẫn gàn gũi với nhà dì Vân, dù chẳng có họ hàng bà con gì hết.

Cũng có lúc tôi rủ Bé Tý đi chơi. Những trò chơi tuổi thơ thật đơn giản, hồn nhiên. Tôi dẫn Bé Tý lên rú cát, hái những bông sim, bông mua tím rồi cài lên tóc em. Giả bộ như dùng máy hình chụp cho em và nói: “Bóng em đẹp lắm, lớn lên Bé muốn làm gì? Bé Tý khúc khích cười: “Em muốn làm cô giáo như cô Huệ, cô Hoàng dạy tụi mình đó”. Vừa cười đó mà mặt Bé xịu xuống, buồn. Tôi hỏi: “Tại răng em buồn rứa?”.  “Bé sợ không học lên nữa thì mần răng làm cô giáo được? Phải chi Bé cũng có cha như Cu Anh thì nhà Bé vui lắm và Bé được lên tỉnh học nữa”.

Buổi chiều trên động Mụ Huyền thật đẹp, nắng vàng trải dài trên bãi cát. Hai chúng tôi đi bên nhau nhìn lên bầu trời trong xanh có những đám mây trắng và xa xa những đàn chim bay về hướng chân trời. Ước gì cuộc sống mãi như thế, tuổi thơ như một trang giấy trắng với muôn vàn kỷ niệm đẹp, không lo toan cuộc sống, không bận tâm chuyện gia đình xã hội như người lớn


Năm 1964 tôi đậu vào lớp Đệ Thất trường Trung Học Nguyễn Hoàng, cha tôi gởi tôi lên ở trọ nhà bác tôi để đi học cho gần. Vậy là tôi phải chia tay với bọn trẻ trong làng và ở xa Bé Tý, cô bé hàng xóm mà tôi luôn quý mến như em gái của mình. Hai năm sau chiến tranh xảy ra khắp vùng quê. Dân làng tôi phải di tản. Bé Tý và dì Vân dọn lên ở khu định cư Ngô Xá. Lúc này Bé Tý đã thôi học để phụ giúp mẹ làm bún và nuôi heo. Những ngày cuối tuần nghỉ học tôi hay về thăm Bé Tý và dì Vân ở trại tạm cư Ngô Xá. Hai mẹ con ở trong một mái nhà tranh nhỏ. Bé Tý nói tôi đừng gọi là Bé nữa mà gọi theo tên khai sinh là Ngoan, lúc này đã thành một thiếu nữ tuổi 15. Em lớn hẳn lên và lối suy nghĩ cũng đổi khác. Em thường nói với tôi rằng: “Ước gì em cũng có môt người cha như anh thì gia đình em hạnh phúc biết mấy, em cũng muốn học lên như anh nhưng nhà nghèo qúa nên em không thể”. Tôi an ủi: “Em đừng buồn nữa, rồi ba em sẽ về mà. Xa cách lâu rồi cũng có ngày đoàn tụ”. Tuy an ủi Ngoan nhưng trong lòng tôi cũng thương xót cho số phận của Ngoan không được may mắn như tôi. Ngoan là đứa bé thông minh, hiền từ ngoan ngoãn với mẹ đúng như cái tên dì Vân đặt cho Ngoan. Tuy học ít nhưng Ngoan rất giỏi văn thơ. Ngoan thường đọc những bài thơ do em làm cho tôi nghe mỗi lần tôi về thăm, đặc biệt những bài thơ nói về cha, người cha trong trí tưởng tượng của Ngoan. Biết Ngoan thích đọc sách nên tôi thường tìm mượn của bạn bè đem về cho Ngoan đọc những cuốn truyện, sách báo dành cho lứa tuổi mới lớn, tuổi học trò.


Năm tôi vào học Đệ Tam thì được Ty Xã Hội Quảng Trị cho vào ở ký túc xá, được ăn cơm miễn phí cho người nghèo. Lúc này tôi rất bận chuyện học nên ít về làng, có lần Ngoan theo dì Vân đi chợ tỉnh, ghé thăm tôi ở ký túc xá, cạnh bờ sông Thạch Hãn. Tôi đưa Ngoan ra ăn chè ở quán chè bờ sông Thạch Hãn, rồi dẫn em đi coi phim ở rạp Đại Chúng. Hôm đó rạp chiếu phim “Romeo và Juliette”, chuyện phim thật ngang trái và cảm động làm cho Bé Tý khóc sụt sùi khi coi.

Hôm đó là kỷ niệm cuối cùng tôi đi chơi với Ngoan, chúng tôi vẫn coi nhau như anh em không có ý gì khác dù đã qua lứa tuổi ô mai. Và Ngoan đã đến tuổi dậy thì có thể bắt đầu cho một cuộc tình mới chớm nở, con gái thường yêu sớm hơn con trai. Lúc này tôi tập trung việc học vì trước mắt hai kỳ thi Tú Tài đang chờ nên ít về thăm Ngoan, nhưng tự nhủ trong lòng hãy đem đến niềm vui cho cô gái bất hạnh này.

Chiều 30 tết (năm 1968) tôi cùng Tân, người bạn cùng phòng, về Ngô Xá thăm dì Vân và Bé Tý. Mẹ Tân cũng tạm cư ở đó. Tôi mang theo một gói mứt và hai đòn bánh tét do mẹ tôi nấu, gởi tặng dì Vân. Ngoan nghe tôi về thăm rất vui mừng nói: “Ui chao ơi, tưởng mô anh quên em rồi chớ! Hôm ni chắc trời sắp bão anh mới về đó”. Tôi cười: “Mần răng anh quên Ngoan được, em gái cưng của anh mà”. Rồi trao cho Ngoan bao lì xì nhỏ. Không hiểu sao chiều đó Ngoan ít nói, khuôn mặt em buồn hơn mọi khi. Khi từ giã, tôi hẹn ngày mồng hai tết sẽ về thăm nữa. Ngoan đi theo kéo tay tôi lại và nói: “Nhớ mốt về nghe, đừng bỏ em một mình, lúc này em sợ cô đơn và sợ xa anh trai lắm”. Tôi thấy đôi mắt của em ướt, tôi nắm chặt tay Ngoan. Chúng tôi nhìn nhau vài giây nhưng không nói thêm lời nào nữa.

Đêm giao thừa, không về nhà, tôi ở lại ký túc xá. Khoảng nửa đêm tôi nghe tiếng súng vang lên trong thành phố mà cứ ngỡ tiếng pháo đốt trong đêm giao thừa. Càng về sáng tiếng súng  càng lớn pha lẫn tiếng pháo kích khắp thị xã. Tất cả học sinh trong ký túc xá tìm chỗ ẩn nấp. Đến sáng thì tiếng súng thưa dần chúng tôi được tập trung điểm danh và được anh phó Ty khuyên không nên ra khỏi ký túc xá vì tình hình còn nguy hiểm. Lòng tôi nóng như lửa đốt, mong về nhà để coi cha mẹ và các em ở nhà ra sao. Khoảng 10 giờ tôi xin phép anh Phán cho tôi được về nhà. Qua đường Quang Trung tôi thấy lính Cộng Hòa đang tải thương. Họ chận những ngả đường, kiểm tra người qua lại. Tôi thấy nhà cửa đổ nát và những xác người nằm rải rác trên đường phố không rõ của dân hay lính phía bên kia. Về đến nhà, may mắn ba mẹ và các em tôi không hề hấn gì. Lúc này tôi chợt nghĩ đến dì Vân và Ngoan, cầu mong họ được bình yên. Một cái Tết kinh hoàng, gây tang tóc và đau thương cho mọi người.

Ngày mồng hai tết, tôi đạp xe về Ngô Xá như lời hứa với dì Vân và Ngoan. Trên đường đi tôi linh cảm có cái gì không bình thường nên cố đạp nhanh qua đoạn đường bảy cây số nhiều ổ gà và bị đắp mô nhiều đoạn. Dì Vân ôm tôi khóc thảm thiết. Dì nói, khuya 30 bác Khôn, cha của Ngoan đã về nhà dẫn Ngoan đi lên chiến khu rồi, nghe dì nói Ngoan khóc nhiều lắm và không muốn đi nhưng bác Khôn bắt buộc phải đi. Bác ấy nói đem Ngoan ra Bắc học hành để sau này làm cán bộ cách mạng. Tôi rất buồn khi phải xa Ngoan, dù sao chúng tôi đã một thời vui chơi bên nhau và có rất nhiều kỷ niệm từ quê làng, vùng quê tuổi thơ làm sao quên được.Tôi cầu nguyện cho Ngoan bình an.

Khoảng mười ngày sau, dì Vân nhắn tôi về. Lần này tôi về đón nhận tin khủng khiếp nhất trong cuộc đời. Dì Vân nói đơn vị của bác Khôn báo tin mật cho dì biết là bác Khôn và em Ngoan đã bị tử nạn trên đường vào chiến khu. Tôi bàng hoàng không tin đó là sự thật. Nhìn tấm ảnh của Ngoan đặt trên bàn thờ tôi thấy lòng mình quặn đau. Nhớ lại chiều 30 tết, linh cảm nào khiến em nói với tôi: “Đừng bỏ em một mình, em sợ cô đơn và sợ xa anh…”. Bây giờ lời nói của em đã thành sự thật. Em đã vĩnh viễn ra đi bỏ lại mẹ hiền và bỏ lại tôi, người anh trai đã một thời rong chơi với em trên rú cát quê mình. Tôi oán chiến tranh, tôi hận bác Khôn. Nếu không có chiến tranh và bác Khôn không về đêm 30 tết thì em Ngoan mãi mãi là đứa con ngoan của dì Vân, mãi mãi là người em gái qúi mến của tôi. Sau đó tôi đề nghị dì Vân về rú cát làm cho Ngoan một ngôi mộ giả, để mỗi khi về thăm quê tôi được thắp cho Ngoan một nén nhang và tìm lại em trong  mơ của một thời tuổi thơ rong chơi bên rú cát.

Hôm nay ngày 30 tết, ngày giỗ của em tròn 50 năm. Dì Vân cũng đã qua đời, ở phương trời này tôi thắp một nén hương lòng để tưởng nhớ em. Cầu nguyên em được an vui nơi cõi vĩnh hằng. Hãy vui chơi nơi rú cát hẹn một ngày anh cũng về đó gặp em, người em gái tôi yêu thương nhất trên đời. Vĩnh biệt em!

Cali ngày 30 Tết Mậu Tuất 2018.
Lê Văn Tiến















Thứ Hai, 12 tháng 2, 2018

Valentine -Thư Cho Người Yêu Cũ

*Hoàng Ái Đông


Anh thương mến,

Đã hơn 40 năm rồi, em muốn chôn kín cuộc tình này. Cuộc tình mà cả hai chúng ta đều phải thao thức trăn trở. Anh phiêu bạt nơi phương trời hải ngoại, em tất bật ở chốn quê nhà vì miếng cơm manh áo và muôn vàn chuyện thế sự đau đầu. Hôm qua em lang thang trên mạng gặp được bài viết của vợ anh: Tình Tự Võ Bị. Anh ơi! Em cố nén không muốn khóc nhưng sao nước mắt em cứ trào ra. Rồi em đã khóc, khóc cho một cuộc tình nhiều uẩn khúc và ngang trái của chúng mình. Không biết giờ này bên phương trời Tây anh có chút gì nhớ về em không? Hay anh đang say giấc nồng bên người vợ yêu qúi của anh.

Anh yêu! Cho em gọi lại từ này nhé vì bây giờ anh đâu còn thuộc về em. Anh đang yên bề gia thất và rất hạnh phúc với vợ con đúng như chị Linh nói trong "Tình Tự Võ Bị”. Nhớ lại chuyện ngày xưa lúc tụi mình mới lớn lên. Anh 16 còn em 15, mình quen nhau ở khu vườn nhà em. Khu vườn rất đẹp và xinh xinh trong ký ức của em bây giờ. Ba em trồng toàn cây lưu niên và trước mặt nhà Ba trồng rất nhiều hoa. Em nhớ anh nói anh thích nhất là cây hoa phượng tím. Vì mỗi lần anh đi ngang nhà là nhìn thấy em đang học bài dưới gốc cây phượng đó. Ba mẹ em không có con trai, bốn chị em gái ba đặt tên bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.  Em là con út nên rất được ba mẹ cưng chiều. Em là bé nhút nhát nhất trong nhà, không có bạn nhiều, chỉ có Ngọc Sương học cùng lớp với em. Nhờ hái trái cây cho nhà em mà sau này anh và em quen thân nhau. Năm em học Đệ Tam thì anh đã Đệ Nhất của Trường Trung Học Nguyễn Hoàng.

Nhớ lắm. Mỗi lần tan trường anh cứ bước đi sau theo em về nhà. Con đường Lê Văn Duyệt từ Trường Nguyễn Hoàng đến Thôn Hạnh Hoa sao mà dễ thương qúa. Có nhiều lúc em đã quay lại nhìn anh nhưng sợ mấy đứa bạn chọc quê, “Mi nhìn ai mà mà nhìn hoài rứa?" Em đỏ mặt chối bai bải, “Có nhìn ai mô.” Ngọc Sương lại chọc em, “Con gái nói có là không, con gái không là có.”  Rồi cả bọn phá lên cười. Những ngày tháng như vậy tình yêu lớn dần trong lòng em. Cả em và anh đều giấu kín chuyện tình mới lớn này chỉ thể hiện qua ánh mắt qua những lần anh đến giúp nhà em hái những trái cây lưu niên. Anh không đẹp trai nhưng trái tim anh rất đẹp và ấm áp trong lòng em. Em nhờ anh giải mấy bài toán phương trình năm em học đệ ngũ, đệ tứ. Em học toán rất dở. Anh có nói sau này em sẽ thành cô giáo dạy văn còn anh là một kỹ sư xây dựng. Đúng, anh đã kiến trúc một đồ án tình yêu trong tâm hồn em. Để đến bây giờ đồ án dở dang và chúng ta đang ở hai phương trời cách biệt. Em tên Hoàng Thị Đông, sau này mỗi lần viết thư cho em anh thêm chữ lót Ái Đông. Hoàng Ái Đông. Anh nói anh yêu mùa Đông nên gọi em là Ái Đông. Mùa Đông có gì đâu mà anh yêu? Cây cối xác xơ, màu trời xám xịt và lũ dơi rủ nhau đi tìm giấc ngủ dài. Còn em thì thao thức đọc và viết thư cho anh rồi quên soạn giáo án cho ngày mai đến lớp. Em hư quá phải không anh?

Anh đậu Tú Tài hai và chuyển vào Huế học Văn Khoa. Em thiếu vắng đi một anh bạn hàng xóm. Những buổi chiều vắng anh, khu vườn nhà em trở nên hiu quạnh. Em không còn học bài dưới cây hoa phượng nữa mà chôn mình trong căn phòng rồi tưởng tượng anh đang ngồi trong ghế giảng đường hay đi bên một cô gái Huế nào đó. Em rùng mình không dám suy nghĩ nữa. Em yếu đuối và đa nghi qúa phải không anh? Tội nghệp con chim xanh Ngọc Sương lâu lâu qua nhà chơi, nhét trong túi em một bức thư anh viết gởi qua địa chỉ nhà nó. Tất nhiên anh không dám gởi trực tiếp cho em vì anh sợ ba mẹ em la rầy.Thư anh kể nhiều chuyện vui ở Huế, nhất là chuyện anh gặp lại cô giáo cũ Như Quỳnh làm cố vấn lớp Anh văn của anh và gặp hai ông Giáo Sư nước ngoài Chuffer và Mayllier dạy khoa Anh văn. Anh kể mấy vị giáo sư đó rất thương anh vì anh là người sinh viên nghèo và chiụ khó nhất lớp. Nhà anh nghèo không đủ tiền cho anh vào học trong Huế nên anh phải đi dạy kèm kiếm thêm tiền mua course. Mỗi lần anh lên giảng đường, khuôn mặt anh nhợt nhạt vì thiếu dinh dưỡng. Ôi càng nghe em càng thương anh vô cùng, đời sao bất công thế? Em thì sống trong một gia đình giàu có và được cưng chiều đủ thứ, muốn gì cũng được. Còn anh thì ngược lại.

Vài tháng sau em nhận một lá thư cuối của anh trước khi anh đi vào Đà Lạt học khóa Sĩ quan. Trong thư có đoạn anh viết:

“ Nhà anh nghèo qúa anh không đủ điều kiện học tiếp nên chọn con đường binh nghiệp. Hơn nữa, ba tháng ở Huế, anh bị mất phương hướng. Suốt ngày phải tham gia phong trào sinh viên tranh đấu đã làm anh chán nản, không học hành gì được mà suốt ngày đi biểu tình, đấu tranh với mục tiêu không rõ ràng. Người ta đã chính trị hóa học đường.Vì thế nên anh đã rời bỏ giảng đường văn khoa và giã từ thành phố Huế, thành phố mà anh có rất nhiều kỷ niệm với thầy cô và bạn bè. Anh đã lên đường gia nhập quân đội,  em hãy yên tâm hẹn ngày gặp lại…”

 Đọc thư anh em không buồn với sự quyết định thay đổi hướng đi nhưng em chỉ buồn vì lần này em đã xa anh, xa thật rồi không biết ngày nào gặp lại. Làm thân con gái mới lớn, tình yêu đầu đời em đã nếm mùi cay đắng. Sau bốn năm ra trường không biết anh còn nhớ em không hay cuộc đời binh nghiệp và lý tưởng hào hùng của một chàng sĩ quan trẻ sẽ làm phai mờ hình ảnh em trong tâm hồn anh.

                                                          ****

Thế rồi năm 1972 chiến tranh trở nên ác liệt, tỉnh Quảng Trị mình phải di tản. Em theo gia đình vào định cư ở trại Hoà Khánh Đà Nẵng. Lúc đó em đã đậu vào Trường Sư phạm Việt Văn Huế đúng như anh và em đã ước mơ.Tình cờ em đã gặp lại anh ờ Đà Nẵng trong những ngày anh đi chiến dịch ở vùng Hoà Khánh, Nam Ô. Em vui mừng như mình vừa trúng số. Và em đã có những ngày hạnh phúc bên anh. Nhìn anh rắn rỏi và phong trần hơn xưa. Nhân một lần đi chơi với hai người bạn cùng khóa với anh tấm hình các anh chụp trước Tượng Phật ở Hoà Khánh em còn giữ đến bây giờ.

Lúc này tư tưởng anh đổi khác, anh không còn dự định tương lai làm kỹ sư nữa mà thích làm một phóng viên chiến trường sau khi mãn khóa nên lúc nào trong tay anh cũng có những cuốn sách của nhà văn quân đội Phan Nhật Nam :Mùa Hè Đỏ lửa hay Dựa Lưng Nỗi chết v.v.. Còn em thì muôn đời vẫn yếu đuối và lo sợ mất anh vì chiến tranh càng ngày khốc liệt. Em hiểu lý do tại sao anh không bao giờ hứa hẹn với em một điều gì về tương lai. Vì nghĩ đời lính rày đây mai đó, sống chết gần nhau lỡ mai này… Anh hay hát cho em nghe bài: Góa phụ ngây thơ:

“Đơn xin cưới một tờ đơn xin cưới
Anh thảo rồi anh lại xé em ơi!
Bỡi không muốn thấy người yêu nhỏ bé
Một sớm nào thành góa phụ ngây thơ”
     ( Nhạc Trần Thiện Thanh)
                                   ****
Tháng tư năm 1975, khóa anh ra trường sớm vì nhu cầu của chiến trường. Gia đình em cũng di tản vào Sài Gòn ở Đường Tô Hiến Thành. Anh chọn binh chủng Biệt Đông Quân đóng ở Long Bình. Anh được về phép 24 giờ nhưng mới được một ngày, anh phải trở về trình diện đơn vị theo lệnh của cấp trên. Anh vội vàng chia tay em và gởi lại bộ vét-tông mà anh mang từ Đà Lạt về và những kỷ vật gồm thư từ và hình ảnh của anh và em. Em hụt hẫng và nghẹn ngào, chỉ biết cầu nguyện cho anh được bình an khi ra chiến trường. “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu. Cỗ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.” Em sợ câu đó lắm. Em cầu mong anh trở về trong thanh bình và chúng ta được sống bên nhau trong thế giới không chiến tranh, không hận thù.


Anh thương mến! Em nhắc chuyện cũ nhiều qúa phải không anh? Vì đó là một quãng đời thật đẹp đối với em. Con gái mới lớn lên và mối tình đầu ghi dấu trong tim làm sao em quên được. Sau 1975, em mất liên lạc với anh vì thế sự xoay chiều. Nghe nói sau khi ra khỏi trại cải tạo, anh về quê lấy vợ rồi mai danh ẩn tích ở đó. Anh không liên lạc với em cũng phải vì anh mặc cảm là một người thua cuộc, một người tù cải tạo. Nhưng không anh ơi, mặc dù thời sự xoay chiều nhưng trái tim em không bao giờ đổi hướng. Sau khi ra trường, em chọn về dạy ở La Gi - Bình Tuy vì nơi đó có rất nhiều dân Quảng Trị vào sinh sống. Những lúc buồn nhớ anh, em ra dạo ở bờ biển Bình Tuy, nhìn ra khơi, tưởng tượng anh đang làm việc ở xứ người. Đang sống hạnh phúc bên vợ con và vui chơi bên bạn bè đồng đội của anh ngày xưa. Còn em vẫn muôn đời cô đơn và yếu đuối.

 Thôi thì: “Duyên trăm năm đứt đoạn. Tình một thưở còn hương.” Ngày Lễ Tình Yêu em cầu chúc anh sức khỏe và hạnh phúc bên gia đình. Em mượn mấy câu thơ của TTKH thương tặng anh để nhớ lại mối tình đầu.

“Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên
Thì ai đem lại cánh hoa tim
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên”
                  (Trích Bài thơ thứ nhất. TTKH)

 Viết xong thư cho anh, em nhìn ra ngoài trời vẫn mưa rả rích, mùa đông về buồn da diết như tâm trạng của em bây giờ.Tạm biệt anh. 

 Người xưa của anh.

HAĐ
Valentine 2018. 
Viết từ La Gi - Bình Tuy.


Thứ Hai, 5 tháng 2, 2018

Người Đi Lên Từ Muôn Vàn Khó Khăn!



Người Đi Lên Từ Muôn Vàn Khó Khăn!                       
Trần Quốc Phiệt

Thế mà chú ấy đã khuất bóng đời non bảy năm rồi, ngồi một mình ngẫm lại như mới ngày hôm qua. Tất nhiên thời gian rồi cái gì cũng sẽ phôi pha nhạt nhòa, nhưng vết bầm này thì hằn sâu quá kỹ.

Thật ra tôi chưa muốn khơi lại cái sự mất mát quá lớn lao đó, vì chẳng biết lấy gì để bù đắp vào được, đành phải cố gắng giữ thái độ bình thản bằng cách im lặng, nhưng dẫu không khơi lại thì chính nó vẫn cháy âm ỉ trong lòng. 

Nhiều lần anh em trong gia đình gặp mặt, trước bàn thờ, nhìn vào di ảnh, chúng tôi không giao ước mà vẫn trùng hợp, cùng nhìn nhận một sự việc như nhau và không một ai nói một bất cứ điều gì về chú ấy. Ai cũng giữ kín trong lòng một nỗi xót xa ngậm ngùi, vì chắc chắn lời nói ra sẽ đi kèm theo dòng nước mắt. 

Con gái đầu của chú ấy, đã vài lần nói với tôi về Ba cháu trong sự đau buồn thương nhớ, thật thấm thía với nỗi đau của cháu mình, nhưng còn lời nào để chia sẻ và an ủi. Tôi đành lảng tránh bằng câu trả lời “lâu rồi mọi sự sẽ phôi pha”, hãy sống bình thản cho những ngày kế tiếp, hãy mạnh dạn dấn bước tiến lên. 

Nhưng hôm nay tôi đang chuẩn bị viết về chú em tôi theo yêu cầu của một đồng môn. 

*** 

Năm 1953, giữa mùa đông rét buốt mưa dầm gió bấc ở cái xứ vốn đã nghèo nàn lại càng tiêu điều thêm bởi chiến tranh dai dẳng. Tại làng An Lưu, Quảng Trị, một chú bé vừa chào đời, hai ngày là phải xa mẹ, năm ngày kế sau, tại bệnh viện Quảng Trị, bà vĩnh viễn lìa trần. Chú bé tội nghiệp ấy được đặt tên là Trần Quốc Triền. Đó là đứa em bất hạnh của người viết bài này. 

Vâng, đúng là chú em tôi có một cuộc đời không giống như mọi người, ngay từ tấm bé đã không hề được mẹ bồng bế trong vòng tay. Không hề thấy di ảnh mẹ mình, vì qua chiến tranh nhà tan cửa nát “Lửa bao lần bốc xám mặt quê hương…”  Tất cả đã là tro tàn xác vụn tả tơi. 

Trong chuỗi ngày tang thương u buồn đó, dưới căn nhà tranh vách đất lè tè, đã ấn sâu trong trí óc tôi, khi vừa lên tám, bao nhiêu điều không bao giờ quên được! 

Làm sao tôi có thể quên được tiếng nấc nghẹn ngào của những người trong gia tộc mỗi lần nhắc đến mẹ tôi. Những bữa ăn đạm bạc, bên cạnh ngọn đèn dầu leo lút là một chén cơm và đôi đũa! 

Làm sao tôi quên được tiếng khóc của chú em tôi thèm vú mẹ, và tiếng à ơi gà trống nuôi con lắc nôi dỗ dành, hòa trong âm thanh buồn bã của côn trùng réo gọi giữa những đêm dài buốt lạnh quạnh hiu! 

Làm sao có thể quên được mỗi buổi chiều chị tôi, cô gái chưa đầy mười hai tuổi, phải bồng chú em đi quanh xóm để xin bú dạo!

 Nhưng chưa hết, vài tháng sau, Ba tôi bị Tây bắt nhốt vào nhà lao Quảng Trị. Anh chị em côi cút đùm bọc lấy nhau, cháo rau qua bữa! 

Tuổi thơ của chú ấy bắt đầu những ngày như thế đó, trước khi có cuộc sống bình thường để học hành thành đạt. Tất nhiên trong hoàn cảnh như vậy nuôi nấng cũng rất gay go, có điều may mắn là không ốm đau lặt vặt. Và đặc biệt nhờ Bà cô, húy danh là Trần Thị Hốt, chị của Ba tôi tận tình chăm sóc mem búng, đó là công lao trời biển, anh chị em chúng tôi khắc dạ ghi lòng. Hiện bàn thờ Bà cô Trần Thị Hốt được đặt trong nhà chú Trần Quốc Triền. 

Trần Quốc Triền ngay từ nhỏ đã biểu hiện nhiều nét thông minh. Gia đình tôi các bà cô đọc thì phải đánh vần nhưng truyện Kiều lại thuộc vanh vách. Ba tôi thì thơ phú đầy mình, nên mọi giao du hằng  ngày với bạn hữu, Chú ấy chỉ ngồi lắng nghe mà thuộc cả. 

Ở bậc tiểu học là một học sinh xuất sắc trong trường, luôn chiếm vị thứ nhất tất cả các lớp. Năm cuối cùng ở bậc nầy, Thầy Trần Xuân Yên, Hiệu trưởng trường tiểu học  ở địa phương, cũng là giáo viên lớp Nhất, rất thương và đặt tin tưởng ở trò Triền. Thầy Yên đã nói với Ba tôi rằng:“Thầy yên chí, kỳ này thi vào đệ thất, em Triền phải có tên thôi…” 

Theo dõi việc làm bài thi của em mình, tôi phát hiện điều đặc biệt ở phần nhập đề luận văn để mở đầu cho lời bình giải câu ca dao “……” là có nhận xét sâu sắc, lối mở đề gợi sự tò mò cho người xem…và dự đoán là chú em tôi có khiếu văn chương. Khi đó tôi đang học Đệ Nhị ban văn chương ngôi trường lớn nhất ở tỉnh. 

Đúng vậy, sau này Trần Quốc Triền cũng vào ngồi ban C. Học hành ra sao thì tôi không theo dõi nữa. Chỉ biết rằng chú ấy không hề rớt kỳ nào, cho đến khi vào Huế học Đại Học Sư Phạm Đệ Nhị Cấp ban Anh văn. Tốt nghiệp năm 1975. 

Tuy sinh viên Trần Quốc Triền là một Phật tử nhưng được chấp nhận nội trú ở Cư Xá Sinh Viên Xavier, do Linh Mục dòng Tên Thiên Chúa Giáo sáng lập và điều hành, tại số 4 bis Lê Thánh Tôn, Huế, bốn năm liền, nhờ thông qua thư giới thiệu của hai vị Linh Mục giáo xứ Thạch Hãn, Long Hưng và thành tích trong học bạ các lớp bậc trung học. 

Ngoại lệ đó đã được Cha Giám Đốc người Tây Ban Nha, kế nhiệm Linh Mục Jacques De Leff chấp thuận, khi xem kết quả học tập và lời phê của quý vị giáo sư từng phụ trách. Tại nơi này, chú em tôi đã được quý Cha tận tình động viên và giúp đỡ. Bây giờ những vị này đều đã là người thiên cổ, nhưng gia đình chúng tôi luôn nhớ ơn những ân nhân cao quý ấy. Và xin ghi nhận tình cảm thắm thiết tương thân, đồng môn, đồng hương… những bạn hữu của chú em tôi.Tất cả đều là sức đẩy cho chú ấy từng bước đi lên. 

Chú em làm thơ khi còn rất trẻ, Đệ Tam, Đệ Nhị đã có thơ đăng trên Văn, Văn Học, Bách Khoa với bút hiệu Trần Lưu An, có khi là Tâm Tuyển (pháp danh của Chú ấy). 

Trong tập Chân Dung và Kỷ Niệm, Cô Tiên người em họ rất thân thiết với Chú ấy khi còn đi học, đã viết bài “Còn Mãi Bên Nhau", tưởng nhớ anh Trần Quốc Triền, rất chí tình, dạt dào thương nhớ. 

Cũng qua Chân Dung và Kỷ Niệm, trong một bài khác với nhan đề “Về Một Người Đã Ra Đi…” bạn học của chú Triền là anh Nguyễn Khắc Phước, mà tôi đã tìm lại được những dấu chân của chú em mình. Và như nghe văng vẳng đâu đó giọng ồ ồ của chú ấy đang ngâm bài thơ lục bát “Đỉnh Mù”… để cảm nhận nỗi xót xa trầm ngâm: 

“Lên cao mới biết trời gần
Dăm cây trụi lá trơ cành mân mê
Nỗi buồn trắng đục nằm kề
Mờ câm hơi đá lối về còn xa…” 

Số bài thơ của Chú ấy hiện tôi có không nhằm nhò gì so với số đã viết ra, bị thất lạc rất nhiều sau cơn binh lửa, trong những lần di tản. Bài tôi ưa ý nhất là Quảng Trị 72. 

Xin ghi ra đây để cùng dành một phút lắng sâu với nỗi niềm về quê mẹ. 

Quảng Trị 72

                     Trần Lưu An

Phố xá nớ chừ nghe tiêu điều lắm
Xa quá rồi sao thăm được nữa đây
Trong trí tưởng đàn quạ đen lẳng lặng
Bóng nhập nhòa theo bóng nắng lắt lay. 

Cây thôi còn để mùa thu rụng lá
Tổ mất rồi se sẻ cũng bay xa
Nhà tan hoang và người đi chốn lạ
Đêm tiếp ngày thêm những giọt đắng cay. 

Lúa thôi vàng trong ruộng cày bằng đạn
Khoai thôi xanh luống đất tưới bằng bom
Dòng Thạch Hãn nghe trăm chiều ly tán
Nhớ nhịp chèo xưa con nước nỉ non. 

Người sống đó và người đã chết
Hồn tưởng chừng lạnh buốt heo may
Vẳng ai gọi tiếng sao mà tha thiết
Vẫy nhau hoài chấp chới một bàn tay.
1972 

Ai ngờ rằng đằng sau tâm hồn thơ văn lai láng ấy lại là một con người say mê võ thuật: Thái Cực Đạo,và Không Thủ Đạo. Riêng Thái Cực Đạo đã đạt được đai đen thời còn là học sinh trung học,đó là nhà giáo Trần Quốc Triền. 

Tuy đã có bằng cấp cử nhân, tốt nghiệp sư phạm đại học đệ nhị cấp khoa Anh ngữ, nhưng những bước đi đầu tiên trên vùng biển xanh trời trong cát trắng Nha Trang cũng lắm gian truân do thế thời!. Rồi ra thì giá trị của trí tuệ cũng còn chỗ đứng, khi đó một khung trời ấm mới mở bừng lên. 

Có một thời gian chú Trần Quốc Triền làm cho công ty cà phê. Vì nhu cầu cần một người thông thạo Anh ngữ nên chú ấy được đi khá nhiều Quốc Gia trong khu vực Châu Á cũng như Châu Âu. Đặc biệt năm 1994, Chú ấy đã được đến Hoa Kỳ với vai trò thông và phiên dịch, nhưng tôi đọc trong Business Card thấy ghi bằng Anh ngữ là Phó Giám Đốc Giao Dịch.

Sau này chú trở lại ngành giáo dục, chức vụ sau cùng là trưởng bộ môn tiếng Anh trường chuyên Lê Quý Đôn, Nha Trang 

Ngoài ra chú ấy còn điều hành Trung Tâm Ngoại Ngữ Hàn Thuyên ( Han Thuyen foreign Language Centre) cũng tại thành phố Nha Trang. 

Là người chịu đọc, chịu học để thăng tiến trí tuệ nâng cao hiểu biết. Cho nên khi đã ổn định vẫn tiếp tục học để lấy MA (Master of Arts). Lớp đầu tiên của chương trình Fullbright. Tôi không rõ ở quê nhà học vị hậu đại học đó được gọi là gì, nên xin ghi lại bằng tiếng Anh. 

Cuối mùa hạ năm  2005, chú em Trần Quốc Triền của tôi đã lìa trần, sau sáu tháng nằm bất động vì tai biến mạch máu não. Để lại biết bao thương tiếc cho gia đình, bà con, bạn hữu và đồng nghiệp, bảy năm đã trôi qua, chưa vơi được xót xa ngậm ngùi. 

Nhân ghi lại sự kiện đau xót này, xin tỏ bày lòng tri ân đến quý bà con, đồng nghiệp, đồng hương, đồng môn, thân hữu và môn sinh … đã chia sẻ cùng gia đình chúng tôi vào những tháng ngày đen tối ấy. 

Trong nỗi xót xa thương tiếc, tôi đã viết bài thơ “Hoài Cảm” như là lời tâm sự với chú em mình, xin ghi lại nguyên văn như sau: 

Hoài Cảm 

         Hạ Thái Trần Quốc Phiệt
   Viết để thương tiếc Trần Quốc Triền
                    (1953 -2005) 

Năm ba tuổi (53), chưa có lần thấy mẹ
Em vội về gặp mẹ ở bên kia
Tóc muối tiêu, anh ngỡ em còn bé
Mãi thương em như thuở mẹ lìa đời. 

Em bước đi một quảng đời trăn trở
Buổi bú nhờ vú lạ những người quanh
Mẹ đi rồi, tưởng em chết trăm phần
Ơn phước lạ em lớn lên bừng sáng. 

Chừ tháng năm đã đi vào dĩ vãng
Mà dễ đâu quên được chuỗi lăn trầm
Đời chông gai em vượt lắm gian truân
Mới thành đạt nên danh, sự nghiệp 

Rồi hôm nay nghe em vĩnh biệt
Anh lặng người mắt lệ ướt mi quanh
Mẹ sinh em chưa dỗ ngọt một lần
Thiếu thốn đó, gia đình thương em lắm. 

Anh hạ bút dòng thơ, môi đang đắng
Mắt anh quầng vì khóc ngót nửa năm
Nói gì thêm khi đời đã định phần
“Tử vô kỳ, sinh thì hữu hạn” 

Nơi xa xôi trời ở đây cũng xám
Mây giăng buồn tím nhạt tận đồi xa
Anh quặn đau lòng trăm nỗi xót xa
Chữ u mê sao trải lòng anh đặng
Mất em rồi, ôi vô vàn cay đắng
Lời khôn cùng, thương nhớ lắm em ơi! 

Ngày 05 tháng 9 năm Ất Dậu
07 – 2005 

Bài thơ viết rất nhanh và gởi liền bằng email, nhưng đang trong thời kỳ xây lăng, nên non cả tháng sau mới đọc cho người quá vãng trước mộ phần. 

Tôi biết rằng Thím Triền và các cháu không thể đọc vì bị xúc động, nên người đọc là một đồng hương, đương nhiệm thư ký của chú ấy trong trung tâm ngoại ngữ Hàn Thuyên. 

Người đã tự nhận là: 

1 - Lời ngỏ 

Nửa đời em chẳng biết làm thơ,
Trần gian ai có học chữ ngờ,
Thầy đi để lại bao thương tiếc,
Khóc thầy nước mắt kết thành thơ. 

Người đồng hương thư ký, chỉ ghi  tên Thổ, thay lời Giám Đốc Trần Quốc Triền để nhận và hồi đáp thơ gởi từ phương xa. Bài thơ gồm 14 khổ, viết về các tình huống khác nhau của các thành viên trong gia đình, vắn tắt nhưng rất xúc động. Xin trích vào đây ba khổ, và kính gởi lời đa tạ Chị Thổ.
…………………………………… 

8 - Nghe Đọc Thơ Hai Anh 

           Nghĩa trang Phước Đồng
           chiều Chủ Nhật 30-10-05 

Em đọc thầy nghe, hồn đứng lặng,
Hồi lâu, thầy nói: “cám ơn cô”
Cám ơn cô đã đọc thơ,
Nhịp cầu đã nối đôi bờ âm dương,
Lời thơ chan chứa tình thương,
Hồn tôi còn mãi vấn vương cõi trần.
……………………………………… 

9 - Hồi Âm 

Em nhận thư anh một buổi chiều,
Mây trôi ảm đạm gió đìu hiu,
Bên ngôi nhà mới nồng hương khói,
Lời thơ sưởi ấm giấc cô liêu.
………………………………… 

Trong nỗi nhói đau khi nhắc lại sự mất mát gần đây và những ngày tháng u ám xa xưa, cũng có một chút an ủi nhẹ nhàng về những bước vươn lên từ vũng bùn đen của em tôi. 

Tất cả đã khởi đi từ muôn vàn khó khăn, và cũng đã chấm dứt vào cái ngày oan nghiệt giữa năm 2005. Hoài niệm những bước đi qua từng chặng đời của chú ấy, với biết bao là nhớ thương và tiếc nuối. Tất cả đã vào quá vãng khi ngậm ngùi ngoái lại tháng ngày qua: 

Còn ai để giẫm trên bãi biển Nha Trang những buổi chiều vàng phai nắng nhạt.
Còn ai để nghe âm vang sóng dồn, dương reo Cam Ranh, Đại Lãnh…..
Còn ai  trở về đứng bên Tịnh Tâm, Trường Tiền, Thương Bạc… nhìn con thuyền lướt ánh trăng, lắng nghe câu hò mái đẩy…
Còn ai dừng chân bên cầu Ba Bến ngắm dòng sông Vĩnh Định mặt nước lững lờ trôi.
Còn ai  ghé qua Chợ Hôm, Chợ Cạn để người quen kẻ biết niềm nở chào hỏi thân thương…
Còn ai in bóng trên đường làng, lối xóm, hớn hở tay bắt mặt mừng dưới hàng tre già vang lời chim mừng mùa lúa mới… 

Thế là hết, Trần Quốc Triền đã giã từ tất cả.
Xin ghi lại vài hàng chân tình mộc mạc này để chiêu niệm những chặng đời từng có bên nhau. Với lời nguyện cầu cho người khuất bóng sải cánh an bình về phương trời tịnh độ. 

Trần Quốc Phiệt
Ca.USA  03-2012